Trang nhất » Thông Tin Nhà Trường » Các Tổ Chuyên Môn » Văn

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 31

Máy chủ tìm kiếm : 1

Khách viếng thăm : 30


Hôm nayHôm nay : 731

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 13210

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4642403

Các Trang Thông Dụng

Trang Chủ
Thống Kê
Trường Học Trực Tuyến
Thời Khóa Biểu
Website cũ
Bộ Giáo Dục
violympic
IOE
Mail Sở

CHUYÊN ĐỀ 1: MÔN NGỮ VĂN

Thứ năm - 19/10/2017 23:00
CHUYÊN ĐỀ 1: MÔN NGỮ VĂN

CHUYÊN ĐỀ 1: MÔN NGỮ VĂN

NÂNG CAO HIỆU QUẢ NĂNG LỰC ĐỌC - HIỂU CỦA HỌC SINH TRONG DẠY-HỌC VÀ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THPT

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO SÓC TRĂNG

TRƯỜNG THPT NGUYỄN KHUYẾN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

“NÂNG CAO HIỆU QUẢ NĂNG LỰC ĐỌC -  HIỂU CỦA HỌC SINH TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THPT”

Người phụ trách:

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

MAI THỊ MINH

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU

1. Lí  do thực hiện chuyên đề

1.1. Cơ sở lý luận

Từ năm học 2014 – 2015, học sinh cấp THPT trong toàn quốc bắt đầu thực hiện kì thi THPT Quốc gia. Kết quả của kì thi không chỉ là căn cứ giúp các em được công nhận tốt nghiệp THPT mà còn giành những ưu trội làm cơ sở để xét tuyển vào trường đại học và cao đẳng mà các em có nguyện vọng lựa chọn.

Như chúng ta đã biết, từ năm học 2014 – 2015 Bộ GD&ĐT cho biết việc thực hiện việc đổi mới kiểm tra đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT năm 2014 thực hiện theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Cấu trúc đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn gồm 2 phần: đọc hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc hiểu.

Mặc dù tỷ lệ điểm khoảng 30% tổng điểm số bài làm nhưng Phần đọc - hiểu trong môn Ngữ văn là một phần quan trọng và có khả năng rất cao sẽ quyết định tới điểm thi toàn bài, từ đó ảnh hưởng tới kết quả của bài kiểm tra viết và thi THPT Quốc gia. Hơn nữa, năng lực đọc hiểu trong môn Ngữ văn còn giúp các em ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống.

Tuy vậy, hiện nay một bộ phận không nhỏ học sinh làm không tốt phần đọc - hiểu trong các bài kiểm tra 15 phút, bài kiểm tra viết, bài thi học kì, bài thi THPT Quốc gia. Điều đó cũng đang đặt ra một bài toán khó giải cho những nhà quản lý giáo dục và đội ngũ giáo chức dạy học bộ môn này.

Để trả lời cho câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó thì chúng ta có thể có rất nhiều lí do khác nhau: nguyên nhân khách quan có, chủ quan có… nhưng điều mà chúng tôi quan tâm ở đây là không phải đi sâu vào phân tích, tìm hiểu cặn kẽ các nguyên nhân của nó như một nhà xã hội học mà chỉ nhìn nhận nó ở trên góc độ là một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn THPT với những suy tư, trăn trở, lo lắng và tâm huyết với bộ môn để khắc phục phần nào tình trạng trên.

Nhưng theo chúng tôi, nguyên nhân quan trọng và ảnh hưởng nhất chính là những người đang hàng ngày trực tiếp bước lên bục giảng chưa có một phương pháp, một cách thức hấp dẫn và phù hợp với từng đối tượng học sinh, tâm lý của học sinh nên chưa lôi cuốn, thu hút các em cùng tham gia vào việc học bộ môn này. Xuất phát từ thực trạng trên, chúng tôi chia sẻ một vài giải pháp “Nâng cao hiệu quả năng lực đọc – hiểu của học sinh trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn THPT”.

Chúng tôi mong rằng, các đồng nghiệp góp thêm ý kiến để cho chuyên đề được đầy đủ hơn và có nhiều kinh nghiệm giảng dạy tốt hơn trong thời gian tới.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Chúng ta vẫn thường quan tâm rất nhiều đến chất lượng các bộ môn học trong nhà trường. Đây là vấn đề đang được sự quan tâm của toàn ngành giáo dục cũng như toàn xã hội hiện nay. Do vậy, trong nhiều năm trở lại đây việc cố gắng tìm ra một số giải pháp hữu hiệu để nhằm nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và tạo sự hứng thú cho các em học sinh nói riêng là một vấn đề đặt ra cho mỗi giáo viên cũng như toàn ngành giáo dục.  Đến nay có rất nhiều giải pháp hữu hiệu mà chúng tôi cho rằng nó mang lại hiệu quả cao như việc cải cách sách giáo khoa đến việc thay đổi phương pháp giáo dục theo hướng tích cực, chủ động của học sinh nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong xu thế mới hiện nay.

Trong năm học 2014 – 2015, Sở Giáo dục và Đào tạo Sóc Trăng cũng đã tổ chức lớp tập huấn cho giáo viên môn Ngữ văn về Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực, trong những năng lực cần hình thành và phát triển trong môn Ngữ văn gồm có: các năng lực chung và các năng lực đặc thù. Trong các năng lực đặc thù có năng lực đọc hiểu văn bản và năng lực tạo lập văn bản.

Điều đáng quan tâm nhất là chất lượng học sinh của trường chúng tôi đang giảng dạy là rất thấp, rất nhiều học sinh làm không tốt phần đọc hiểu trong đề bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra viết, kiểm tra học kì, thi THPT Quốc gia (đọc mà không hiểu), học vẹt, học tủ,  điều đó do nhiều nguyên nhân khác nhau, khách quan có, chủ quan có. Nhưng theo tôi, một phần không nhỏ là do chính đội ngũ giáo viên chưa thực sự đặt mình vào đối tượng học sinh, chưa thu hút và tác động được sự yêu thích học tập cho các em. Chưa tạo cho các em một sự hứng thú, yêu thích việc học và chưa kịp thời động viên khích lệ để các em có một sự tự tin nào đó trong quá trình học tập. Các em chưa có những kĩ năng cần thiết để làm bài. Cho nên có nhiều học sinh mang tâm lý chán nản với việc học, kết quả học tập rất thấp.

Đặc biệt đối với bộ môn Ngữ văn cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự như thế. Qua gần nhiều năm giảng dạy, chúng tôi nhận thấy rằng, có một bộ phận không nhỏ học sinh thiếu sự mặn mà và không yêu thích bộ môn Ngữ văn. Chính vì thế có nhiều lúc các em lên lớp lại tỏ thái độ không quan tâm, không muốn học hoặc không chú ý nghe giảng, thậm chí có nhiều học sinh nằm ngủ hoặc nói chuyện riêng, hoặc có một số học sinh chế giễu, chọc ghẹo những bạn chăm chỉ học bộ môn này.

Vì vậy, làm thế nào để giáo dục các em học sinh có thái độ học tập đúng đắn và yêu thích bộ môn học này và có thể có những điểm số cao để vượt qua các kì kiểm tra, thi cử đó mới là vấn đề mà tôi luôn trăn trở, suy nghĩ để tìm ra những giải pháp tối ưu nhất nhằm phần nào khắc phục được tình trạng trên.

Tuy nhiên, điểm hạn chế của chuyên đề tài này cũng không ít, như tính lô gic, tính chuyên sâu khoa học…. Vậy nên, chúng tôi rất mong quý thầy cô giáo đóng góp cho chúng tôi những ý kiến thiết thực nhất, hiệu quả nhất để cho tôi bổ sung, hoàn thiện chuyên đề này và áp dụng tốt hơn nữa trong quá trình giảng dạy của chúng tôi cũng như cho các giáo viên thuộc bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường và một số giáo viên trường bạn có thể tham khảo chuyên đề tài này.

1.3. Tính cấp thiết của chuyên đề                            

  Như đã đề cập ở phần cơ sở lý luận của đề tài, từ năm học 2014 – 2015, học sinh cấp THPT trong toàn quốc bắt đầu thực hiện kì thi THPT Quốc gia. Riêng ở trường THPT Nguyễn Khuyến từ năm 2015 - 2016 bắt đầu tiến hành hình thức kiểm tra chung ở 8 bộ môn trong đó có môn Ngữ văn. Đối với môn Ngữ văn sẽ ra đề theo hướng đánh giá năng lực học sinh nhưng ở mức độ phù hợp. Cụ thể là tập trung đánh giá hai kĩ năng quan trọng: kĩ năng đọc - hiểu văn bản và kĩ năng viết văn bản. Cấu trúc đề thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn gồm 2 phần: đọc - hiểu và viết (làm văn), trong đó tỷ lệ điểm của phần viết nhiều hơn phần đọc - hiểu.

Mặc dù tỷ lệ điểm khoảng 30% tổng điểm số bài làm nhưng Phần đọc - hiểu trong môn Ngữ văn là một phần quan trọng và có khả năng rất cao sẽ quyết định tới điểm thi toàn bài, từ đó ảnh hưởng tới kết quả thi THPT Quốc gia.

Hơn nữa, năng lực đọc - hiểu trong môn Ngữ văn còn giúp các em ứng dụng rất nhiều trong cuộc sống. Nhưng từ thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy một bộ phận không nhỏ ở trường tôi đang giảng dạy còn yếu kỹ năng đọc – hiểu văn bản. Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Nâng cao hiệu quả năng lực đọc – hiểu của học sinh trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn THPT” được thực hiện.

2. Mục đích, nhiệm vụ thực hiện

Mục đích của việc thực hiện đề tài này là giúp các em học sinh có  kĩ năng làm tốt phần đọc hiểu theo cấu trúc đề kiểm tra mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo định hướng Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo định hướng phát triển năng lực. Nhiệm vụ nghiên cứu nhằm giúp các em làm bài đạt tỉ lệ trên trung bình theo yêu cầu của bộ môn và đạt điểm cao môn Ngữ văn trong kì thi THPT Quốc gia.

3. Đối tượng và phạm vi áp dụng

3.1. Đối tượng

Từ thực tế có sự thay đổi trong kiểm tra đánh giá học sinh trong những năm gần đây, chúng tôi nhận thấy đó là một vấn đề rất đáng quan tâm không chỉ ở đơn vị trường THPT Nguyễn Khuyến tôi đang giảng dạy, mà chúng tôi thiết nghĩ đây còn là vấn đề chung cho các trường trên địa bàn thị xã và tỉnh Sóc Trăng và trên toàn quốc.

3.2.  Phạm vi

Bộ môn Ngữ văn có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của con người và đã là môn thi bắt buộc trong kì thi THPT Quốc gia. Việc khắc phục những hiện tượng trên là nhiệm vụ cấp bách của bộ môn Ngữ văn. Nên chuyên đề này không chỉ áp dụng trong phạm vi của Trường THPT Nguyễn Khuyến mà nó có thể áp dụng cho một số đơn vị trường học khác trên địa bàn thị xã và trong tỉnh, trong cả nước.

4. Phương pháp thực hiện

Để làm tốt phần đọc - hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản; các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu; lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc - hiểu; xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh.

5. Tính mới của chuyên đề

Hiện nay, trong bài kiểm tra của học sinh nói riêng, trong đời sống nói chung, chúng ta phải tiếp xúc với nhiều loại văn bản. Tuy nhiên, việc tiếp xúc (đọc) văn bản là một vấn đề nhưng hiểu được văn bản đó mới là vấn đề đáng quan tâm. Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài “Nâng cao hiệu quả năng lực đọc – hiểu của học sinh trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn THPT” được thực hiện nhằm giúp các em làm tốt đề bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn nhờ đó giúp các em đạt điểm cao trong các kì kiểm tra, thi cử.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

                                        PHẦN HAI: NỘI DUNG

1.   Cơ sở lý luận

Mục tiêu dạy học không chỉ giúp học sinh nắm được nội dung kiến thức mà phải hình thành cho học sinh kỹ năng vận dụng vào thực tiễn với những dạng bài tập cụ thể.

Để giúp các thí sinh phát huy được năng lực làm bài phần đọc - hiểu đạt điểm tối đa, với kinh nghiệm của bản thân chúng tôi xin khái quát một số vấn đề trong việc nâng cao năng lực làm bài phần đọc – hiểu của học sinh như sau:

- Học sinh cần nắm được kiến thức trong phần ngữ liệu đọc - hiểu được trích dẫn, thường là thơ và văn xuôi, có khi trích một số văn bản thuộc các phong cách ngôn ngữ khác, trong đó có thể ra ngoài chương trình sách giáo khoa. Phần này tập trung kiểm tra: đọc hiểu nội dung chính, các thông tin quan trọng của văn bản, hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản. Kiểm tra kiến thức về từ ngữ (các loại từ, nghĩa của từ); cách phân chia câu, các loại câu, các dạng câu sai; dấu chấm câu, chức năng của từng dấu; các loại phong cách ngôn ngữ. Đọc - hiểu một số biện pháp nghệ thuật, biện pháp tu từ ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, cú pháp trong văn bản và nêu tác dụng của chúng. Với nội dung kiến thức trên, nếu thí sinh không hoặc chưa nắm vững thì cần phải ôn luyện ngay từ bây giờ, vì có nắm được lý thuyết mới hiểu và làm bài tốt.

- Về mặt kỹ năng làm bài, đầu tiên học sinh cần phải có khả năng nhận biết đề như một yêu cầu bắt buộc. Nhận biết rõ ngữ liệu trích dẫn trong đề là ngữ liệu được trích ở đâu (sách giáo khoa, báo chí, tác phẩm văn học ngoài sách, hoặc các nguồn khác…); thể loại văn bản được trích dẫn là gì (văn xuôi, thơ, các loại văn bản khác); văn bản được trích dẫn thuộc phong cách ngôn ngữ nào; có tất cả mấy câu hỏi trong yêu cầu, mỗi câu hỏi có mấy ý cần trả lời; nội dung yêu cầu của từng câu hỏi ra sao, mỗi nội dung đó cách trả lời như thế nào.

Từ sự nhận biết trên, học sinh sẽ định hướng được cách làm bài để đáp ứng cả yêu cầu hình thức lẫn nội dung. Về hình thức, chữ viết phải rõ ràng, cách trả lời phải theo từng yêu cầu đề, không được trả lời chung chung. Mỗi câu phải tách bạch bằng việc đánh số câu tương ứng với số câu trong đề, trả lời trọn vẹn những ý đã hỏi. Khi hết câu phải xuống đoạn đánh số và trả lời câu hỏi khác. Chú ý phần này không viết thành đoạn, bài văn dài dòng mà chỉ trả lời ngắn gọn, đúng trọng tâm. Tùy theo câu hỏi mà có thể trả lời bằng một đoạn văn hoặc bằng những ý gạch đầu dòng cho tương ứng. Về nội dung phải trả lời đúng với yêu cầu câu hỏi, sát nghĩa, sâu và mang tính khoa học.

Không được hỏi một đằng trả lời một nẻo, hỏi hai vấn đề nhưng chỉ trả lời một, cũng không trả lời câu này chưa xong lại sang câu khác. Về thời gian trình bày, do câu đọc hiểu chỉ 30% tổng số điểm bài thi nên học sinh cần phân bố lượng thời gian làm bài câu này hợp lí. Tránh tình trạng sa vào câu này mà ảnh hưởng đến thời gian làm câu khác.

2.  Cơ sở thực tiễn

2.1.  Thực trạng chung

Trong thời gian giảng dạy gần đây chúng tôi nhận thấy: có một bộ phận không nhỏ học sinh của trường tôi nói riêng và nhiều trường trên địa bàn tỉnh nói chung có thái độ học tập chưa tốt trong đó có thái độ không yêu thích học đối với bộ môn Ngữ Văn. Hay nói cách khác, các em học sinh này thường xuyên có tâm lý chán học, không thích học và thậm chí còn muốn bỏ học. Có khi, các em đọc xong một văn bản nhưng không nắm bắt được nội dung của văn bản. Trong quá trình giảng dạy, chúng tôi nhận thấy những mặt thuận lợi và khó khăn đối với việc giảng dạy bộ môn này như sau:

2.2. Khó khăn

Trường THPT Nguyễn Khuyến thành lập đến nay được 35 năm. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho việc dạy học còn hạn chế hơn so với với một số các trường cùng cấp trong tỉnh. Mặt khác, trường đóng chân trên địa bàn thị xã, nhưng lại là vùng tập trung phần đông người dân tộc thiếu số (Khmer, Hoa,...), điều kiện kinh tế, xã hội có phát triển song vẫn còn khó khăn, việc tiếp cận thông tin văn hóa thường ngày đến việc đường giao thông đi lại tương đối khó khăn nên (đặc biệt là người dân tộc Khmer) đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập của các em học sinh.

Nhìn chung, phần nhiều học sinh là người dân tộc thiểu số (chiếm trên 50%), mặt khác, năng lực học tập của các em chưa đồng nhất. Do đó gặp rất nhiều hạn chế trong tiếp thu bài giảng, và tất nhiên cũng khó khăn hơn nhiều cho giáo viên khi tiếp cận và giảng dạy đối với những học sinh này so với các em học sinh khác.

Có nhiều em không có điều kiện đến trường, chưa kể đến việc có nhiều phụ huynh chưa quan tâm đến việc học hành của con em mình mà chỉ lo cho miếng cơm manh áo.

Một bộ phận học sinh đến lớp không vì mục đích học tập mà chủ yếu để vui chơi và được cha mẹ cho tiền để tiêu xài, kể cả những học sinh đang học lớp 12 vẫn còn tư tưởng quậy phá trong giờ học, bỏ học và có ý định bỏ học.

Từ những khó khăn khách quan trên còn có khó khăn xuất phát từ đội ngũ giáo viên của trường. Phần lớn giáo viên trong trường tôi là giáo viên trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm nên cũng chưa có những giải pháp hữu hiệu để tạo nâng cao chất lượng học sinh.

2.3. Thuận lợi 

Bên cạnh những khó khăn, thử thách cũng có những thuận lợi nhất định: Đa số các em chăm ngoan, biết nghe lời thầy cô giáo và đặc biệt đáng mừng hơn là chưa phát hiện học sinh có dấu hiệu vi phạm các tệ nạn xã hội như nghiện ma túy. Song, với sự nỗ lực của nhà trường trong việc dạy học phụ đạo trái buổi nên tôi có điều kiện thuận lợi về mặt thời gian để giảng dạy và rèn luyện thêm cho các em trong việc học bộ môn này được tốt hơn.

Để giúp học sinh làm tốt phần đọc - hiểu trong đề bài kiểm tra, bài thi bộ môn Ngữ văn và cũng chính là góp phần nâng cao tỉ lệ bộ môn trong các kì kiểm tra chung, tỉ lệ thi đậu tốt nghiệp THPT Quốc gia. Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Khuyến – Thị xã Vĩnh Châu, chúng tôi đã không ngừng tìm tòi, nghiên cứu và qua quá trình thực tế của nhà trường chúng tôi rút ra được một số giải pháp “Nâng cao hiệu quả năng lực đọc – hiểu của học sinh trong kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn THPT” cụ thể như sau:

3.     Các giải pháp tiến hành giải quyết vấn đề

3.1.               Yêu cầu chung

Để làm tốt phần đọc hiểu, giáo viên cần giúp học sinh nắm được thế nào là hiểu một văn bản (1); các yêu cầu và hình thức kiểm tra cụ thể về đọc hiểu (2); lựa chọn những văn bản phù hợp với trình độ nhận thức và năng lực của học sinh để làm ngữ liệu hướng dẫn đọc hiểu (3); xây dựng các loại câu hỏi và hướng dẫn chấm một cách phù hợp với mục đích và đối tượng học sinh (4).

          * Khái niệm đọc - hiểu

  Đọc là một  hoạt động của con người, dùng mắt  để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe.

  Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời  sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?

è  Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng - sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt.

3.2.  Những yêu cầu cụ thể

3.2.1. Nắm vững những phần trọng tâm được hỏi

Trong đề thi, câu đọc hiểu thường bao gồm 3 nội dung chính:

-  Kiểm tra kiến thức về biện pháp nghệ thuật, biện pháp tu từ ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa, cú pháp trong văn bản và nêu tác dụng của chúng, dấu chấm câu, chức năng của từng dấu; các loại phong cách ngôn ngữ...

-  Kiểm tra đọc hiểu nội dung chính, các thông tin quan trọng của văn bản, hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản, xác định chủ đề, bố cục, đặt tên cho văn bản...

-  Vận dụng: đề thi có thể bao gồm một số dạng như: từ chủ đề của văn bản, thí sinh trình bày ý kiến bản thân liên quan đến chủ đề đó; trích một phần văn bản và yêu cầu hoàn thiện nó; hoặc yêu cầu đưa thêm những ý kiến riêng của bản thân ngoài quan điểm, chính kiến của tác giả văn bản…

3.2.2. Đọc và phân tích kỹ đề

- Muốn đạt điểm tối đa trong phần thi này, trước hết, phải đọc thật kỹ văn bản. Xác định số câu hỏi, số vế trong từng câu hỏi, mức điểm từng câu, từng vế. Chú ý các từ “những”, “các” trong câu hỏi bao giờ cũng bao hàm từ 2 ý trở lên. Lưu ý đến các chi tiết ngoài lề của văn bản như: nhan đề, tác giả, nguồn, năm ra đời (thường ở cuối văn bản). Xác định xem văn bản gồm bao nhiêu đoạn, bao nhiêu câu. Phân tích sự liên quan của các câu hỏi vì có thể có sự gợi ý trả lời trong câu sau cho câu trước.

- Để làm tốt phần nhận biết, phải nắm vững kiến thức căn bản. Phải có cách để phân biệt sự khác nhau giữa chúng: về phong cách ngôn ngữ, phương thức biểu đạt, thao tác lập luận.... Ví dụ, về phương thức biểu đạt: Nếu gặp một văn bản mà có đầu có đuôi câu chuyện, có nhân vật, có thể tóm tắt được thì đó là phương thức tự sự (kể chuyện). 

- Đặt nhan đề cho văn bản phải đảm bảo các tiêu chí: đúng trọng tâm, ngắn gọn, hay, dựa vào chủ đề, hình tượng trung tâm, ý nghĩa văn bản.

- Xác định nội dung, chủ đề dựa vào nhan đề (nếu có), hình tượng trung tâm của văn bản. Xác định bố cục ý dựa vào các đoạn (các phần) của văn bản; xác định số câu, tìm câu chủ đề của nhóm câu để chia ý thành nhiều đoạn.

- Ở phần vận dụng có thể viết theo các ý gạch đầu dòng cho rõ ràng hoặc viết thành đoạn văn ngắn. Nếu đề trích một phần văn bản yêu cầu bày tỏ suy nghĩ thì lấy phần trích ấy làm phần chủ đề rồi triển khai thành đoạn cũng có 3 phần: mở đoạn - triển khai - kết đoạn. Tuy nhiên cần lưu ý phải trả lời đúng với yêu cầu câu hỏi, sát nghĩa, sâu và mang tính khoa học.

3.3. Những kiến thức cơ bản học sinh cần nắm vững

3.3.1Phạm vi và yêu cầu của phần đọc – hiểu trong kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn THPT

* Phạm vi

- Văn bản văn học (văn bản nghệ thuật).

- Văn bản nhật dụng (thuộc lĩnh vực  đời sống xã hội như: Vấn dề chủ quyền biển đảo, thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma tuý, ... ).

* Yêu cầu cơ bản của phần đọc – hiểu

- Nhận biết về kiểu (loại), phương thức biểu đạt, cách sử dụng từ ngữ, câu văn, hình ảnh, các biện pháp tu từ,…

- Hiểu đặc điểm thể loại, phương thức biểu đạt, ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ, câu văn, hình ảnh, biện pháp tu từ.

- Hiểu nghĩa của một số từ trong văn bản.

- Khái quát được nội dung cơ bản của văn bản, đoạn văn.

- Bày tỏ suy nghĩ bằng một đoạn văn ngắn.

3.3.2. Những kiến thức cần có để thực hiện việc đọc – hiểu văn bản

3.3.2.1. Kiến thức về từ: Nắm vững các loại từ cơ bản (danh từ, động từ, tính từ, trợ từ, hư từ, thán từ, từ láy, từ ghép, từ thuần Việt, từ Hán Việt,…Hiểu được các loại nghĩa của từ (nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa gốc, nghĩa chuyển,…).

3.3.2.2. Kiến thức về câu: Các loại câu phân loại theo cấu tạo ngữ pháp, phân loại theo mục đích nói.

3.3.2.3. Kiến thức về các biện pháp tu từ: Tu từ về ngữ âm (điệp âm, điệp vần, điệp thanh, tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu,…), tu từ về từ vựng (so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…), tu từ về cú pháp (lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…).

3.3.2.4. Kiến thức về văn bản : Các loại văn bản, các phương thức biểu đạt .

3.3.2.5. Kiến thức về phong cách chức năng ngôn ngữ: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ báo chí (thông tấn), phong cách ngôn ngữ chính luận, phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính.

3.3.2.6. Kiến thức về phương thức biểu đạt: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ.

3.3.2.7. Kiến thức về phép liên kết: Phép thế, phép lặp, phép nối, phép liên tưởng, phép tương phản, phép tỉnh lược.

3.3.2.8. Kiến thức về các hình thức lập luận (kết cấu) của đọan trích: Diễn dịch, song hành, qui nạp,…

3.3.2.9. Kiến thức về các thể thơ: Một số thể thơ truyền thống (thể lục bát, thể song thất lục bát; các thể ngũ ngôn Đường luật : ngũ ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn bát cú; các thể thất ngôn Đường luật: thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú), các thể thơ hiện đại (năm tiếng, bảy tiếng, tám tiếng, hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi).

3.3.2.10. Kiến thức về văn xuôi: Nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng, ý đồ, mục đích; thấy được tư tưởng của tác giả gửi gắm trong tác phẩm; giá trị đặc sắc của các yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản; thể loại của văn bản; hình tượng nghệ thuật.

3.3.2.11. Kiến thức về các thao tác lập luận: Chứng minh, giải thích, phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận.

3.4. Một số dạng bài tập đọc – hiểu

      Bài tập 1:

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

Khi Chí Phèo mở mắt thì trời đã sáng lâu, Mặt trời đã cao và nắng bên ngoài chắc là rựt rỡ, Cứ nghe chim gíu gít bên ngoài đủ biết, Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn chỉ hơi tờ mờ. Ở đây người ta thấy chiếu lúc xế trưa và gặp đêm thì bên ngoài vẫn sáng. Chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hết xay.

 Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh. Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng hắn đắng, lòng mơ hồ buồn. Người thì bủn rủn. chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tý. Hắn sợ rượu cũng như người ốm thường sợ cơm. Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có. Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy… Chao ôi là buồn!

 1/ Phát hiện những lỗi về dấu câu và lỗi chính tả trong đoạn trích trên.

 2/ Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích?

 3/ Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật gì? Nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp nghệ thuật đó?

 4/ Xét theo mục đích nói, đoạn trích trên sử dụng kiểu câu gì?

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: ngữ âm và chữ viết; ngữ pháp; nội dung của đoạn trích; nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ giản dị, miêu tả thiên nhiên, câu cảm thán bộc lộ trực tiếp cảm xúc của nhân vật và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó được thể hiện qua đoạn trích; kiểu câu theo mục đích nói,…

Bài tập 2:

Đọc bản tin sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

Chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, Trường THPT Nguyễn Khuyến đã tổ chức Hội thi văn nghệ. Hội thi diễn ra vào 2 đêm: Vòng sơ khảo được tổ chức vào đêm mồng 7 và 8/10/2015; chung kết vào đêm 19/11/2015 tại sân khấu tổ chức lễ trường THPT Nguyễn Khuyến. Thành phần tham gia gồm học sinh tất cả các khối lớp.

Vòng sơ khảo diễn ra với những tiết mục ca ngợi về thầy cô, cha mẹ, quê hương, đất nước,… nhưng cảm động và ý nghĩa nhất vẫn là những bài hát ca ngợi về thầy cô giáo.

 Kết thúc vòng sơ khảo với những tiết mục đa dạng về thể loại lẫn phong cách thể hiện, điều này đã gây ra không ít trở ngại về phía Ban giám khảo trong việc lựa chọn ra các tiết mục vào vòng chung kết. Còn thí sinh dự thi thì hồi hộp chờ đợi kết quả.

Vòng chung kết diễn ra vào đêm 19.11.2015. Phần thi được bắt đầu bằng những bài hát sâu lắng ca ngợi về thầy cô, về tình yêu quê hương, biển đảo, tình phụ mẫu... và một phần không thể thiếu để làm cho đêm chung kết trở nên sôi động đó chính là những tràng vỗ tay cố động nồng nhiệt từ phía khán giả.

Kết quả, giải tốp ca thuộc về các lớp: giải Nhất 12A3, giải Nhì 11A1, giải Ba 10A6; giải đơn ca: giải Nhất 11A5, giải Nhì 11A2, giải Ba 12A2.         

                   (Theo Diệu Phương học sinh lớp 11A2)

1/  Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì?

2/ Xác định thể loại của văn bản trên?

3/  Nêu ngắn gọn nội dung văn bản.

4/  Hãy đặt tên cho văn bản.

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è    Muốn làm được bài tập này, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những kiến thức về: phong cách ngôn ngữ báo chí, thể loại bản tin, nội dung cơ bản của bản tin, cách đặt nhan đề cho bản tin,…

Bài tập 3:

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

“Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cung khác.

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao dời gây nền độc lập,

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.”

(Trích Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi )

1/ Bằng những kiến thức đã học anh (chị) hãy cho biết đoạn trích trên thuộc thể loại gì?

2/ Xác định đối tượng được so sánh, đối tượng so sánh trong đoạn trích trên và cho biết tác giả đã so sánh về những vấn đề gì?

3/ Từ sự so sánh trong đoạn trích, có thể rút ra kết luận gì?

4/  Sức thuyết phục của đoạn trích thể hiện ở điểm nào?

(Đề kiểm tra chung bài viết số 3 (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Muốn làm được bài tập trên, học sinh cần có những kiến thức về: thể loại của văn học trung đại, thao tác lập luận so sánh (đối tượng, mục đích, yêu cầu, cách thức của thao tác lập luận so sánh),…

Bài tập 4:

    Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

HÁT QUỐC CA

Quốc kì là cờ của một nước, quốc ca là bài hát chính thức của một nước. Nước nào cũng có quốc kì, quốc ca. Ghi nhận vinh quang của  vận động viên một nước được giải trong các cuộc thi đấu quốc tế, người ta kéo cờ và cử quốc ca nước đó. Đàm phán giữa các đoàn đại biểu của hai hay nhiều quốc gia, người ta đặt cờ của mỗi nước trước đoàn đại biểu của nước đó. Mỗi người dân chào cờ và hát quốc ca để luôn nhớ tới đất nước mình.

Trước đây, trong doanh trại quân đội, trong các trường học, hàng ngày hoặc buổi sáng ngày đầu tuần, anh chị em tập hợp lại chào cờ và hát quốc ca. Nhưng không hiểu tại sao bây giờ nhiều trường học lại sao nhãng. Rồi bước vào thời “hiện đại” hoặc là có giàn nhạc thay thế trong các buổi lễ trọng thể, hoặc là phát băng cát xét ghi quốc ca; vì vậy có nơi đã lầm lẫn khi định bấm băng quốc ca mà lại phát ra một bài gì đó làm cho mất vẻ trang nghiêm.

Đi thăm một số nước, thấy nước nào người ta cũng rất quan tâm tới chuyện chào quốc kì và hát quốc ca mỗi buổi sáng, mà là hát chứ không được mở băng nhạc. Ở nhiều cuộc lễ long trọng, có quân nhạc cử quốc thiều, nhưng có ông tổng thống vẫn mấp máy môi hát quốc ca của nước mình theo tiếng nhạc; có nơi cử một danh ca cỡ nhất nước hát quốc ca trong lúc chào cờ, và ngay vận động viên khi nghiêm chỉnh chào cờ nước mình mỗi lân đoạt giải cũng thấy họ hát quốc ca nước họ theo giàn nhạc của nước chủ nhà. Những lúc đó, mình thấy thêm yêu bạn bè, vì cùng sống với nhau trong cộng đồng nhân loại nhưng mỗi người có một Tổ quốc, một quê hương để mà nhớ, mà yêu, mà xây dựng, mà bảo vệ.

Chúng tôi được biết là ở một số nơi đã quyết định khôi phục và thực hiện nghiêm chỉnh lễ chào cờ. Mà là hát chứ không được mở băng. Chúng tôi rất hoan nghênh quyết định đó.

Không phải chuyện hình thức đâu. Mỗi lần, đứng trước lá cờ Tổ quốc, hát bài ca Tổ quốc, mọi người sẽ nhớ mình là người của nước nào để hết lòng vì Tổ quốc, quê hương.

(Theo Hữu Thọ - Bình luận báo chí thời kì đổi mới, NXB Giáo dục, 2000).

1/ Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên là gì?

2/  Anh, chị hãy nêu nội dung chính của văn bản trên?

3/  Anh , chị có đồng tình quan điểm sau của tác giả không? Vì sao?

“Không phải chuyện hình thức đâu. Mỗi lần, đứng trước lá cờ Tổ quốc, hát bài ca Tổ quốc, mọi người sẽ nhớ mình là người của nước nào để hết lòng vì Tổ quốc, quê hương.”

4/ Hãy nêu ít nhất một thông điệp của tác giả hoặc bài học sâu sắc nhất mà anh (chị) rút ra được từ bài Quốc ca của nước ta. (trả lời trong khoảng 5 đến 7 dòng).

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 12 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Học sinh muốn làm được kiểu bài tập đọc hiểu này cần nắm được những kiến thức về: phương thức biểu đạt; nội dung; cách viết đoạn văn; hiểu biết của bản thân về bài Quốc ca; biết cách nêu lên quan điểm của bản thân và dùng lí lẽ, dẫn chứng hợp lí để bảo vệ được ý kiến của mình,…

Bài tập 5:

    Đọc bản tin sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

  ĐỘI TUYỂN Ô-LIM-PÍCH TOÁN VIỆT NAM XẾP THỨ TƯ TOÀN ĐOÀN

Trong cuộc thi O-lim-pích Toán quốc tế diễn ra tại thủ đô A-ten, Hi Lạp,từ ngày 14 đến 16 tháng 7, đội tuyển Việt Nam xếp thứ 4 toàn đoàn (đạt 196 điểm). Cả sáu thành viên đội tuyển Việt Nam đều đoạt huy chương: bốn huy chương Vàng, hai huy chương Bạc. Đoàn Trung Quốc xếp thứ nhất (220 điểm, sáu huy chương Vàng). Cuộc thi Ô-lim-pích Toán lần này có hơn 500 thí sinh của 85 nước tham gia.

(Báo Nhân dân, ngày 19 – 7 năm 2004)

1/ Bản tin trên thông báo tin gì?

2/ Tin trên có ý nghĩa như thế nào đối với ngành Giáo dục nói chung và học sinh Việt Nam nói riêng?

3/ Vì sao bản tin trên lại có tính thời sự (ở thời điểm công bố)?

4/ Việc đưa tin cụ thể, chính xác thời gian, địa điểm cuộc thi và kêt quả đạt được của đội tuyển Ô-lim-pích Toán Việc Nam có tác dụng gì? Vì sao?

(Đề kiểm tra chung bài viết số 3 (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Với dạng đề này, giáo viên cần cung cấp cho học sinh những kiến thức về: phong cách ngôn ngữ báo chí; thể loại bản tin; nội dung của bản tin; biết cách nêu lên quan điểm của bản thân và dùng lí lẽ, dẫn chứng hợp lí để bảo vệ được ý kiến của mình,…

Bài tập 6:

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

Mỗi di tích lịch sử văn hóa là một kho báu chứa đựng di sản quý giá của ông cha để lại. Trách nhiệm của chúng ta là cần gìn giữ, bảo vệ để nó trường tồn mãi mãi về sau. Nhưng trong thực tế, hoạt động này còn nhiều hạn chế đáng tiếc. Tình trạng liên tiếp xảy ra các vụ hỏa hoạn lớn, nhỏ thời gian qua ở nhiều di tích là vấn đề đáng lo ngại nhất.

Mới đây, ngày 26-8, tại ngôi chùa Long Sơn ở thôn Phương Đôi, xã Tiên Minh (Tiên Lãng, Hải Phòng) xảy ra vụ cháy lớn khiến hàng cột lim cổ và 13 pho tượng tại ban thờ Tam Bảo bị thiêu rụi. Trước đó, ngày 21-8, tại chùa Bút Tháp ở Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, một trong bốn di tích Quốc gia đặc biệt cũng bị hỏa hoạn ở gian Phủ thờ, làm cháy hoàn toàn hương án bằng gỗ 300 tuổi, một cổ vật tiêu biểu của nghệ thuật chạm khắc thế kỉ 17. Điều đáng buồn là không phải bây giờ, mà trước đây đã  có không ít vụ từng xảy ra, như ở đền thờ Lê Lai (Thanh Hóa), chùa Tảo Sách (Hà Nội), nhà Lang hơn 100 năm tuổi tại Bảo tàng Không gian văn hóa Mường (Hòa Bình)…Và câu hỏi đặt ra là, tại sao không có giải pháp ngăn chặn tình trạng đáng tiếc này?

Không chỉ thường xuyên đối mặt với hỏa hoạn, hiện vật trong các di tích còn luôn bị đe dọa đánh cắp khi thị trường cổ vật luôn sôi động và diễn biến phức tạp. Thời gian gần đây, tình trạng mất cắp cổ vật trong di tích lại rộ lên. Cụ thể, chùa Đa Sĩ (Hà Đông, Hà Nội) liên tục bị kẻ trộm đột nhập lấy đi đỉnh thờ, bốn bát hương cổ và 10 pho tượng quý. Chùa và đình Phù Lưu (Ứng Hòa, Hà Nội) cũng bị mất rất nhiều đồ thờ cúng, trong đó có quả chuông đồng nặng 103 kg được coi là báu vật của chùa. Đáng chú ý là chùa Thổ Hà (Bắc Giang), Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia bị mất pho tượng cổ Thích Ca bằng đồng đen có niên đại hàng trăm năm…(…) Nhiều nhà nghiên cứu và quản lí văn hóa cũng cho rằng, bảo vệ các hiện vật trong di tích cần được coi trọng không kém gì việc trùng tu và phải ráo riết làm ngay, tránh tình trạng “mất bò mới lo làm chuồng”. Công tác bảo vệ cần nghiêm ngặt, cẩn trọng, thường xuyên như ở các bảo tàng.

(Trích Bảo vệ, giữ gìn hiện vật trong các di tích, Nguyễn Thu Hiền, www.nhandan.com.vn)

1/  Chỉ ra phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.

2/ Các di tích lịch sử của chúng ta đang phải đối mặt với thực trạng đáng lo ngại nào?

3/ Vì sao phải bảo vệ, giữ gìn hiện vật trong các di tích lịch sử?

4/ Anh/chị hãy đề xuất giải pháp khả thi để chấm dứt tình trạng trộm cắp cổ vật.

(Đề thử sức kì thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn, Văn học và tuổi trẻ số tháng 12 (345) năm 2015).

è    Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: phong cách ngôn ngữ chính luận; có vốn hiểu biết xã hội về thực trạng các di tích lịch sử của nước ta hiện nay; cách viết đoạn văn; biết cách nêu lên quan điểm của bản thân và dùng lí lẽ, dẫn chứng hợp lí để bảo vệ được ý kiến của mình,…

Bài tập 7:

Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàng. Dãy tre nàng trước mắt đen lại và cắt hình gõ gệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Trong cửa hàng hơi tối, muổi đã bắt đầu vo ve.     

(Trích Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

1/  Phát hiện những lỗi về dấu câu và lỗi chính tả trong đoạn trích trên.

2/  Nêu ngắn gọn nội dung của đoạn trích? 

3/ Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng bút pháp nghệ thuật gì? Nêu tác dụng của việc sử dụng biện pháp nghệ thuật đó?

4/ Đoạn trích trên thuộc thể loại gì?

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Giáo viên cần cung cấp cho học sinh những kiến thức về: ngữ âm và chữ viết; ngữ pháp; nội dung của đoạn trích, nghệ thuật so sánh và  phân tích tác dụng của nghệ thuật so sánh trong đoạn trích;…

Bài tập 8:

Đọc bản tin sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

  Nhằm duy trì và phát triển phong trào rèn luyện thể chất trong học sinh, nhằm đánh giá công tác giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông, đặc biệt để chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20.11, thông qua thi đấu để phát hiện học sinh có năng khiếu thể thao để tham gia Hội Khỏe Phù Đổng của tỉnh, ngày 08.11.2015 trường THPT Nguyễn Khuyến đã tổ chức Hội Khỏe Phù Đổng cấp trường. Nội dung thi đấu gồm: cờ vua (nam, nữ), nhảy cao (nam, nữ), nhảy xa (nam, nữ), đẩy tạ (nam, nữ), chạy 100m (nam, nữ), chạy 800m nữ, chạy 1500m nam.

 Hội thao nhận được sự tham gia nhiệt tình của các bạn học sinh đến từ 28 lớp của trường. Hội thao diễn ra sôi nổi vào hai buổi trong cùng ngày 08.11.2015. Buổi sáng bắt đầu lúc 7h00 thi đấu với các nội dung: nhảy xa, nhảy cao, cờ vua, đẩy tạ. Buổi chiều lúc 14h00 là các nội dung chạy.

Kết quả: Bạn Liêu Nhựt Khoa lớp 12a6 đã xuất sắc đoạt giải nhất với thành tích 1.65m ở nội dung nhảy cao; nội dung đẩy tạ với thành tích 10,15 m do VĐV Thạch Thái Toàn lớp 12a3 chinh phục, bộ môn cờ vua kết quả chiến thắng thuộc về bạn Như Quỳnh (11a7), giải nhì Thanh Tú (11a1).         

(Theo Thùy Dung)

1/ Văn bản trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì?

2/ Xác định thể loại của văn bản trên.

3/ Nêu ngắn gọn nội dung của văn bản trên.

4/ Hãy đặt nhan đề cho văn bản trên.

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è  Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: phong cách ngôn ngữ báo chí, thể loại bản tin, nội dung của bản tin, cách đặt nhan đề cho bản tin,…

Bài tập 9:

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

“Nhớ sao lớp học i tờ

                    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

            Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

        Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”

(Trích Việt Bắc– Tố Hữu)

1/ Đoạn trích trên được viết theo thể thơ gì?

2/  Xác định 02 biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn thơ trên?

3/ Nêu nội dung chính của đoạn thơ trên?

4/  Viết một đoạn văn (10 dòng) nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ cuối trong đoạn thơ trên.

(Đề kiểm tra bài viết số 3 (2015-2016) môn Ngữ văn 12 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

è   Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu; thể thơ lục bát; biện pháp điệp ngữ, từ láy; biết cách viết đoạn văn nêu cảm nhận của bản thân về một số câu thơ theo câu hỏi của đề bài,…

Bài tập 10:

Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

 

”Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi! 
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Nhớ ôi Tấy Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi ”          

 (Trích “Tây Tiến”-Quang Dũng, sách Ngữ văn 12 – tập 1)

1/ Xác định các biện pháp tu từ được dùng để tả cảnh núi non ở câu thơ “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm...Heo hút cồn mây súng ngửi trời”?

2/ Từ “Sông Mã” xuất hiện bao nhiêu lần trong bài thơ, vị trí xuất hiện và vai trò của nó là gì?

3/ Giải thích hình ảnh “Gục lên súng mũ bỏ quên đời”.

4/ Liệt kê một số câu thơ hoặc tên bài thơ đã học, đã đọc về hình ảnh người lính?

(Đề thi học kì I (2015-2016) môn Ngữ văn 12 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

->Giúp học sinh làm tốt bài tập này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm được những kiến thức về: bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng; biện pháp điệp từ, nhân hóa, nói giảm – nói tránh và tác dụng của các biện pháp nghệ thuật đó ; kiến thức về các bài thơ cùng viết về hình ảnh người lính,…

Bài tập 11:

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng Việt như bùn và như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết, nói thường nghe như hát

Kể mọi điều bằng ríu rít âm thanh

Như gió nước không thể nào nắm bắt

Dấu huyền trầm, dấu ngã chênh vênh

Dấu hỏi dựng suốt ngàn đời lửa cháy

Một tiếng vườn rợp bóng lá cành vươn

Nghe mát lịm ở đầu môi tiếng suối

Tiếng heo may gợi nhớ những con đường

Một đảo nhỏ xa xôi ngoài biển rộng

Vẫn tiếng làng tiếng nước của riêng ta

Tiếng chẳng mất khi Loa Thành đã mất

Nàng Mị Châu quỳ xuống lạy cha già.

Tiếng thao thức lòng trai ôm ngọc sáng

Dưới cát vùi sóng dập chẳng hề nguôi

Tiếng tủi cực kẻ ăn cầu ngủ quán

Thành Nguyễn Du vằng vặc nỗi thương đời.

(Trích Tiếng Việt – Lưu Quang Vũ, Thơ Việt Nam 1945 – 1985, NXB Giáo dục, 1985, tr.218)

Câu 1. Sự mượt mà và tinh tế của tiếng Việt được thể hiện ở những từ ngữ nào trong khổ thơ thứ nhất?

Câu 2. Kể tên hai biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ thứ hai và thứ ba.

Câu 3. Nêu nội dung chính của đoạn trích.

Câu 4. Từ đoạn trích, anh/ chị hãy bày tỏ cảm nghĩ của mình về tiếng Việt. (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

“Cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình là một cuộc sống nghèo nàn, dù nó có đầy đủ tiện nghi đến đâu đi nữa. Nó giống như một mảnh vườn được chăm sóc cẩn thận, đầy hoa thơm, sạch sẽ và gọn gàng. Mảnh vườn này có thể làm chủ nhân của nó êm ấm một thời gian dài, nhất là khi lớp rào bao quanh không còn làm họ vướng mắt nữa. Nhưng hễ có một cơn dông tố nổi lên là cây cối sẽ bị bật khỏi đất, hoa sẽ nát và mảnh vườn sẽ xấu xí hơn bất kì một nơi hoang dại nào. Con người không thể hạnh phúc với một hạnh phúc mong manh như thế. Con người cần một đại dương mênh mông bị bão táp làm nổi sóng nhưng rồi lại phẳng lì và trong sáng như trước. Số phận cảu những cái tuyệt đối cá nhân không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn.”

(Theo A. L. Ghéc-xen, Ngữ văn 11, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2015, tr.31)

Câu 5. Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 6. Vẻ bề ngoài đẹp đẽ của “cuộc sống riêng không biết gì hết ở bên kia ngưỡng cửa nhà mình” được thể hiện rõ nhất qua hình ảnh so sánh nào?

Câu 7. Tại sao tác giả cho rằng: “Số phận của những cái tuyệt đối cá nhân, không bộc lộ ra khỏi bản thân, chẳng có gì đáng thèm muốn”?

Câu 8. Anh/ Chị suy nghĩ như thế nào về cuộc sống của con người khi thoát ra khỏi “cái tuyệt đối cá nhân”? (Trình bày khoảng 7 đến 10 dòng)

(Đề thi THPT Quốc gia (2015-2016) môn Ngữ văn 12 của Bộ GD & ĐT).

è   Để giúp học sinh làm được bài thi này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm được những kiến thức về: các biện pháp tu từ, cách tìm nội dung chính của văn bản, cách viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân về một vấn đề được đặt ra từ ngữ liệu, phương thức biểu đạt, thao tác lập luận so sánh,…

Bài tập 12:

          Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi:

         Cây dừa gắn bó với người dân Bình Định chặc chẽ như cây tre đối với người dân miền Bắc. Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người : thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm dách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước mắm… Cùi (thịt) dừa để ăn sống với bánh đa, làm mức, làm bánh kẹo, ép lấy dầu để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà bông. Sọ (gáo) dừa làm khuy áo, làm gáo, làm muôi. Vỏ dừa bện dây rất tốt  đối với người dân đánh  cá  gì  nó  mềm, dẻo dai, chịu mưa, chịu nắng. Cây  dừa gắn bó với đời sống hằng

ngày là như thế đấy.

Câu 1/ Tìm và sửa một số lỗi chính tả trong ngữ liệu trên.

Câu 2/ Ngữ liệu trên thuyết minh về vấn đề gì?

Câu 3/ Xác định hình thức kết cấu của ngữ liệu trên?

Câu 4/ Xác định phương pháp thuyết minh của ngữ liệu trên ? Và nêu tác dụng của phương pháp thuyết minh đó?

Câu 5/ Đặt tên cho đoạn trích.

(Đề kiểm tra chung bài viết số 5 (2015-2016) môn Ngữ văn 10 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

->Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: những yêu cầu về chính tả; phương pháp thuyết minh  (tác dụng của các phương pháp thuyết minh khi sử dụng trong ngữ liệu, các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh).

Bài tập 13:

Đọc đoạn trích sau và trả lời câu hỏi 1 đến 4:

Chủ tăm hắn cũng chẳng có ý chòng ghẹo cô nào, nhưng mấy cô gái lại cứ đẩy dai cô ả này ra dới hắn, cười như nắc nẻ:

       - Kìa anh ấy gọi! Có muốn ăn cơm trắng mấy giò thì ra đẩy xe bò với anh ấy!

   Thị cong cớn:

       - Có khối cơm trắng mấy giò đấy! Này, nhà tôi ơi, nói thật hay nói khoác đấy ?

    Tràng ngoái cổ lại vuốt mồ hôi trên mặt cười:

      - Thật đấy, có đẩy thì ra mau lên!

    Thị vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng

-         Đã thật thì đẩy chứ sợ gì, đằng ấy nhỉ. – Thị liếc mắt, cười tít.

                                                                                         (Kim Lân – Vợ nhặt)

1. Đặc điểm ngôn ngữ của ngữ liệu trên?

2. Xác định nhân vật  giao tiếp của ngữ liệu trên?

3. Tìm và sửa lỗi chính tả trong đoạn trích trên cho đúng ?

4. Đoạn trích trên thuộc phong cách ngôn ngữ gì? Nêu đặc trưng của phong cách

ngôn ngữ đó?

(Đề kiểm tra chung bài viết số 2 (2015-2016) môn Ngữ văn 10 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

->Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, những yêu cầu về chính tả, các nhân vật giao tiếp,…

Bài tập 14:

Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4:

Chúng tôi đứng đây trần trụi giữa trời

Cho biển cả không còn hoang lạnh

Đứa ở đồng chua

Đứa vùng đất mặn

Chia nhau nỗi nhớ nhà

Hoàng hôn tím ngát xa khơi

Chia nhau tin vui

Về một cô gái làng khểnh răng, hay hát

Vầng trăng lặn dưới chân lều bạt

Hắt lên chúng tôi nhếnh nhoáng vàng

Chúng tôi coi thường gian nan

Dù đồng đội tôi, có người ngã trước miệng cá mập

Có người bị vùi dưới cơn bão dữ tợn

Ngày mai đảo sẽ nhô lên

Tổ quốc Việt Nam, một lần nữa nối liền

Hoàng Sa, Trường Sa

Những quần đảo long lanh như ngọc dát

Nói chẳng đủ đâu, tôi phải hát

Một bài ca bằng nhịp trái tim tôi

Đảo à, đảo ơi!

Đảo Thuyền Chài, 4 – 1982

  (Trích Hát về một hòn đảo – Trần Đăng Khoa, Trường Sa,

NXB Văn học, 2014, tr.51)

Câu 1. Đoạn thơ trên được viết theo thể thơ nào?

Câu 2. Cuộc sống gian khổ và hiểm nguy trên đảo của người lính được miêu tả qua những từ ngữ, hình ảnh nào?

Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: Những quần đảo long lanh như ngọc dát.

Câu 4. Đoạn thơ đã gợi cho anh/chị tình cảm gì đối với những người lính đảo? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu từ câu 5 đến câu 8:

Hội chứng vô cảm hay nói cách khác là căn bệnh trơ cảm xúc trước niềm vui, nhất là nỗi đau của người khác, vốn là một mặt trong hai phương diện cấu trúc bản chất Con – Người của mỗi sinh thể người. Tính “con” và tính “người” luôn luôn hình thành, phát triển ở mỗi con người từ khi lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay. Cái thiện và cái ác luôn luôn song hành theo từng bước đi, qua từng cử chỉ, hành vi của mỗi con người trong mối quan hệ với cộng đồng, với cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bà con làng xóm, đồng bào, đồng loại. Trong cuộc hành trình lâu dài, gian khổ của một đời người, cái mất và cái được không phải đã được nhận ra một cách dễ dàng. Mất một đồng xu, một miếng ăn, mất một phần cơ thể, mất một vật sở hữu, con người nhận biết ngay. Nhưng có những cái mất, cái được nhiều khi lại không dễ gì cảm nhận được ngay. Nhường bước cho một cụ già cao tuổi, nhường chỗ cho bà mẹ có con nhỏ trên tàu xe chật chội, biếu một vài đồng cho người hành khất,… có mất có được nhưng không phải ai cũng đã nhận ra cái gì mình đã thu được; có khi là sự thăng hoa trong tâm hồn từ thiện và nhân ái. Nói như một nhà văn lớn, người ta chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần. Tôi muốn đặt vấn đề là cùng với sự báo động những hiểm họa trông thấy, cần báo động cả hiểm họa không trông thấy hay khó trông thấy. Hiện nay đã có quá nhiều dấu hiệu và sự kiện trầm trọng của hiểm họa vô cảm trong xã hội ta, nhất là trong tuổi trẻ.

Bạo lực đã xuất hiện dữ dằn những tháng ngày gần đây báo hiệu nguồn gốc sâu xa ở sự xuống cấp nghiêm trọng về nhân văn, về bệnh vô cảm.

(Trích Nguồn gốc sâu xa của hiểm họa, Bài tập Ngữ văn 12, Tập một,

NXB Giáo dục Việt Nam, 2014, tr.36-37)

Câu 5. Chỉ ra phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 6. Theo tác giả, nguồn gốc sâu xa của nạn bạo lực xuất hiện gần đây là gì?

Câu 7. Tác giả đã thể hiện thái độ gì khi bàn về hiểm họa vô cảm trong xã hội hiện nay?

Câu 8. Anh/Chị suy nghĩ như thế nào khi có những người “chỉ lo túi tiền rỗng đi nhưng lại không biết lo tâm hồn mình đang vơi cạn, khô héo dần”? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng)

(Đề thi THPT Quốc gia (2014-2015) môn Ngữ văn 12 của Bộ GD & ĐT).

è   Để giúp học sinh làm được bài thi này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm được những kiến thức về: thể thơ, các biện pháp tu từ và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ, cách viết đoạn văn trình bày suy nghĩ của bản thân về một vấn đề được đặt ra từ ngữ liệu, phương thức biểu đạt, kiến thức về một vấn đề xã hội,…

Bài tập 15:

   Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:

Suốt năm buôn bán ở mom sông, 
Nuôi đủ một con với một chồng. 
Lặn lội thân cò khi đêm vắng, 
Eo sèo mặt nước buổi đò đông. 
Một duyên hai nợ, âu đành phận, 
Năm nắng mười mưa, dám quản công. 
Cha mẹ suốt đời ăn ở bạc 
Có chồng hững hờ cũng như không!

 (Thương vợ - Trần Tế Xương)

Câu 1. Tìm chỗ sai và sửa lại cho đúng với văn bản gốc? (0,5 điểm)

Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thực. (0,5 điểm)

Câu 3. Nhận xét của anh (chị) về cách tính thời gian, cách nói về nơi công việc làm ăn của bà Tú và chuyện nuôi con lẫn chồng trong hai câu đề? (1,0 điểm)

Câu 4: Viết đoạn văn (khoảng 10 - 12 câu) nêu cảm nhận của anh / chị về hình ảnh ông Tú trong văn bản trên. (2,0 điểm)

(Đề kiểm tra chung bài viết số 1 (2016-2017) môn Ngữ văn 11 của trường THPT Nguyễn Khuyến).

->Để làm bài tập này, học sinh cần nắm được những kiến thức về: bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương, các biện pháp tu từ, cách viết đoạn văn nêu cảm nhận bản thân về một vấn đề được đặt ra từ ngữ liệu.

4. Thực nghiệm và kết quả thực hiện

Tuy thời gian áp dụng các giải pháp trên chưa lâu, song chúng tôi nhận thấy với phương pháp này, bên cạnh việc cung cấp những kiến thức cơ bản cho học sinh trong việc đọc hiểu một văn bản thì còn mang lại hiệu quả thiết thực trong việc giúp các em đạt kết quả cao hơn về chất lượng chung.

 

PHẦN BA: KẾT LUẬN

1. Giá trị của chuyên đề

Như chúng tôi đã trình bày, với chuyên đề này còn rất nhiều hạn chế như tính chuyên sâu, tính logic. Nhưng chúng tôi tin rằng nó rất phù hợp với điều kiện thực tế giảng dạy và học sinh trường của trường ta nói riêng và các đơn vị trường học thuộc nhiều cấp học khác nhau trên địa bàn thị xã Vĩnh Châu và trong toàn tỉnh Sóc Trăng.

Chuyên đề này là kết quả của quá trình nghiên cứu và tìm hiểu của tổ bộ môn trong việc nỗ lực nâng cao chất lượng của học sinh khi làm bài kiểm tra. Đặc biệt khi thi THPT Quốc gia. Chuyên đề này đã được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp trong tổ bộ môn. Vì vậy, chúng tôi tin tưởng rằng nó sẽ rất cần thiết để cho nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn tham khảo, học tập.

2. Đề xuất,  kiến nghị

Chúng tôi mong rằng, trong thời gian tới những nhà quản lý giáo dục cần quan tâm và chỉ đạo sâu sát hơn nữa mang tính vĩ mô đối với bộ môn học này.

Có những giải pháp phù hợp và định hướng cụ thể, kịp thời hơn nữa để giúp cho những giáo viên giảng dạy bộ môn này thực hiện đạt hiệu quả cao hơn.

Trên đây là kinh nghiệm của chúng tôi trong việc đưa ra một số giải pháp giúp học sinh làm tốt phần đọc - hiểu trong bài kiểm tra, bài thi môn Ngữ văn. Với chuyên đề này, chúng tôi nhận thấy nó rất phù hợp với thực tế trong thời điểm hiện nay khi kiểm tra đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực và phục vụ thiết thực đối với việc dạy học bộ môn này tại THPT Nguyễn Khuyến và giúp học sinh đạt kết quả cao trong kì thi THPT Quốc gia. Tuy nhiên, với năng lực hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót và có những giải pháp chưa được nghiên cứu thật sâu sắc.

Mong các đồng nghiệp đóng góp ý kiến để chúng tôi hoàn thành chuyên đề này. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

                                        

 

Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Thùy Dung - Mai Thị Minh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Giới thiệu

Tóm tắt lịch sử Trường Trung học Nguyễn Khuyến

Tóm tắt lịch sử Trường Trung học Nguyễn Khuyến            Nhiều năm qua, biết bao nhiêu người khi nói về ngôi trường Nguyễn Khuyến đều bắt đầu bằng : "Trường của mình ...", chỉ mấy tiếng đơn giản đó thôi cũng đủ nói lên tình cảm rất gần gũi, rất thân thương. Ba mươi...

Thành Viên Đăng Bài

Các Trang Thông Dụng

Thủ tục hành chánh
Cải cách hành chính
Tìm hiểu lịch sử quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào
Một thời để nhớ
Trắc nghiệm Online
Video Nguyễn Khuyến
Tỉnh Đoàn Sóc Trăng
Biển Đảo

Đăng nhập thành viên